Khi sáng tác hội họa, cảm hứng xuất hiện theo nhiều dạng khác nhau. Các quan hệ tạo hình thường xuất hiện như một sự ngẫu nhiên hơn là áp đặt. Có thể chính bức họa đang hình thành lại là nguồn cảm hứng lớn cho họa sĩ. Với trạng thái này, họa sĩ đối diện với chính tác phẩm, say mê với chất liệu, với kỹ thuật, hoặc là bởi tinh thần bức họa, họa sĩ được hưởng nguồn cảm hứng do chính mình tạo ra.
Kể từ hội họa ấn tượng, các họa sĩ có vẻ không mấy quan tâm đến tính hiện thực của hình theo truyền thống. Nhưng chúng ta dễ dàng thống nhất rằng cũng từ khi có chủ nghĩa này, hội họa chuyển mình mạnh mẽ, thoát ly khỏi những quy tắc ngặt nghèo và có phần duy lý. Cũng chính từ đó mà hội họa trở nên đặc biệt phong phú, đa dạng về phong cách. Tinh thần của bức họa ẩn sâu ở bên trong các yếu tố tạo hình và nó tiến gần hơn về phía tình cảm của người xem tranh. Thông tin thị giác nhanh nhạy của con người hiện đại bắt gặp thông tin tạo hình ồ ạt, trỗi dậy trên mặt tranh. Kết quả là người xem tranh thấy được cái cảm giác, cái dấu ấn của tác phẩm trước khi nhận ra thông tin hình ảnh về đối tượng vẽ. Rõ ràng cảm hứng khiến cho họa sĩ không thể chỉ chú ý đến cái nghĩa tả thực, vốn đã có nghệ thuật nhiếp ảnh. Họ phải cảm nhận, linh cảm cái điều mà hiện thực toát ra.

Xét trong dạng cảm hứng theo phong cách sáng tác thể nghiệm khám phá này có thể lấy đại diện lớn là hội họa trừu tượng. Một thời gian dài với các tác phẩm lớn được xây dựng bằng rất nhiều công đoạn, các tính toán cân nhắc kỹ lưỡng bỗng chốc đối lập với các bức tranh trừu tượng của Jackson Pollock. Những tác phẩm hội họa của ông khiến người xem tranh có phần lúng túng. Bạn không thể gán hình cho nó bởi Pollock đã muốn giải thoát khỏi hình tượng nhân vật. Bạn muốn tìm về ý đồ của tác giả, nhưng tiếc rằng Pollock chủ tâm vẽ vô thức, tức là không có sự can thiệp của lý trí. Thay vì dùng bút, mặt tranh được trải ra trên mặt đất, Ông bắt đầu phết sơn, vẩy màu tung tóe, lúc thì đổ sơn và cầm que cứng đi vòng quanh bức vẽ kéo lê các vệt sơn. Các cử động của bàn tay ngẫu nhiên hòa nhập vào tác phẩm.
Bức Nhịp điệu mùa thu của ông là một tác phẩm trong hứng khởi với mặt tranh. Những vết màu đen và trắng được hình thành bằng kỹ thuật phết và vẩy màu, đem lại một không gian nhiều lớp có vẻ vội vã, vô định. Tuy nhiên, sự đan chồng những lớp màu khiến bức tranh của ông có một không gian sâu thẳm, mở đa chiều, không do dự. Pollock kiến tạo tác phẩm bằng việc loại bỏ hình tượng hoàn toàn ở bức tranh này. Ông tìm sự biểu đạt của tác phẩm để nuôi cảm hứng trong mình, Pollock tạo ra tác phẩm và lại hưởng tinh thần từ chính cái mà ông tạo ra.
Bây giờ hãy tưởng tượng, chúng ta phải ngồi hai năm trời để chấm hàng triệu triệu chấm màu trên một mặt tranh rộng hơn 6 mét vuông. Bạn lấy đâu ra sự bề bỉ đó, lấy đâu ra cảm hứng mà làm việc. Vậy mà G.Seurat, họa sĩ hậu ấn tượng Pháp, đã làm đúng như vậy. Bức tranh Chiều chủ nhật trên đảo Cái bình lớn được Seurat vẽ năm 1884 khi ông mới 25 tuổi. Chắc chắn ông đã có được nguồn cảm hứng rất mạnh từ sự khám phá ra lý thuyết sử dụng màu hoàn toàn mới lạ trong thời điểm đó. Để thấy rõ hơn cảm hứng sáng tác của ông, hãy điểm lại quá trình sáng tác bức tranh này.
Seurat đã vẽ trực tiếp đến hơn 200 bức ký họa, phác họa và cả phác thảo kỹ bằng sơn dầu. Lý thuyết cơ bản của ông là phải sử dụng các thành tố cơ bản của hội họa như sắc điệu, màu và đường nét để thể hiện cảm xúc. Với kỹ thuật mà ông gọi là phân điểm (divisionism), những chấm màu không phải là sự pha trộn mà đơn giản hơn là đặt chúng cạnh nhau theo một sự phân tích tỉ mỉ mà ông hoàn toàn chủ động. Sự xuất hiện các sắc thái trong tranh của Seurat là do chính sự pha trộn của thị giác người xem. Ông chỉ làm cái việc đơn giản là chấm các số hạt màu tương ứng với tỷ lệ cần có với sự mẫn cán của một hành động chinh phục chất liệu tạo hình.

Tôi hình dung thế này, ta có thể nhìn thấy một lớp màu vàng của nắng được thể hiện bằng những chấm màu cạnh nhau, chưa có gì thú vị. Sau đó vì muốn nó ấm lên hay tối đi, Seurat bắt đầu đặt những chấm màu khác bên cạnh và cứ mỗi lần như thế, hiện thực bắt đầu xuất hiện như ta quét đi lớp bụi trên một món đồ cổ lâu ngày bị bụi phủ. Ông chỉ cần tiếp tục tuân theo sự mách bảo của cảm hứng về kỹ thuật và kinh nghiệm: có thể tưởng tượng ra khuôn mặt của người phụ nữ bên phải tranh với làn da trắng hồng được ông gia công thế nào. Nếu là tôi, có lẽ tôi có hai nguồn cảm hứng, một là sự thú vị mà hiệu quả của những chấm màu mang đến và hai là một khuôn mặt thanh tú dần dần hiện lên đòi hỏi thêm vào má vào mắt những hạt màu của nó. Seurat là một con người có cảm hứng sáng tác bền bỉ đến độ thành lý trí.
Tóm lại, trong sáng tác hội họa, nếu bóc tách những vấn đề liên quan một cách rành rọt nhất là điều không thể. Vậy nên quan điểm của tôi là tìm một cách để lý giải về sự hình thành tác phẩm hội họa. Cho dù tôi đã cố gắng phân chia quá trình sáng tác theo những biểu hiện của cảm hứng làm những nội dung riêng biệt để tiếp cận tác phẩm hội họa, nhưng thực sự chỉ cần một tác phẩm lớn cũng có thể chứng minh hết thảy mọi vấn đề đã nói trên.
Việc chúng ta dễ dàng nắm bắt nhanh chóng tinh thần của bức họa trước khi kịp hiểu ra nó là cái gì bởi vì thông tin thị giác là nhanh nhạy và đem lại nhiều ý nghĩa nhất cho quá trình tiếp thu thế giới; cũng giống như nghe một điệu nhạc thấy vui hoặc buồn; thời tiết u ám thì cảm thấy trống trải… Nhưng để có được cái tinh thần trong bức họa ấy, họa sĩ đã phải lao động nghệ thuật như thế nào, với cách thức nào và với trạng thái tinh thần ra sao thì chúng ta lại hoàn toàn mơ hồ. Có chăng chỉ là sự ám chỉ, gán ghép hay đối chiếu một cách máy móc; hoặc là từ kinh nghiệm, từ vốn sống của chính mình, hoặc là tham chiếu từ hoàn cảnh sống của họa sĩ. Vì nghệ thuật khó kết luận, nên tôi cũng chỉ nêu những ý kiến chủ quan của mình và mong muốn đóng góp một quan điểm cho người yêu hội họa.
Nghệ thuật hội họa là một loại hình nghệ thuật khó tính, khó hiểu và bất ngờ nhất. Cho dù đã chắc chắn hôm nay anh nhận thức đúng về nó, nhưng ngày mai, anh có thể lại cần phải xem lại mình. Hội họa không có công thức bất biến, cho dù nó được tạo ra phần nào cũng nhờ những quy tắc tạo hình. Giá trị nghệ thuật của các bức họa tồn tại cố hữu, còn những khám phá của chúng ta thì luôn luôn cần phải mới hơn.
Theo PHẠM VĂN TUYẾN / TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT