Quá trình sáng tác nghệ thuật chắc chắn phải được nuôi dưỡng từ cảm hứng của nghệ sĩ. Đứng trước một phong cảnh đẹp, tình cảm trào dâng, họa sĩ thật dễ dàng có cảm hứng để lao động nghệ thuật. Có thể là một sự ghi nhận chắt lọc các biểu hiện tạo hình, thị giác hóa nó; có thể là một ký họa ghi chép đích thực; và đôi khi là một sáng tác thực sự, một tác phẩm. Cường độ của những va đập thông tin tạo hình từ phía đối tượng đôi khi mạnh đến mức làm cho họa sĩ không thể không làm việc. Biểu hiện cơ bản của cảm hứng loại này nảy sinh từ những gặp gỡ mới mẻ, những chuyến đi thực tế, những phát hiện bất ngờ, những tình cảm bất chợt, ngẫu nhiên. Nó cũng có khi tạo nên cảm hứng bền vững đến độ trở thành quan niệm tạo hình, một khuynh hướng sáng tác bền vững kéo dài.

Tôi chọn đại diện cho phong cách sáng tác này là danh họa Claude Monet, họa sĩ đứng đầu của chủ nghĩa hội họa ấn tượng. Với những biểu hiện xúc cảm thực tại nóng hổi, ông luôn có thói quen trực họa, những bức phong cảnh nổi tiếng của ông thể hiện cảm hứng sáng tác rất cao độ. Ông vẽ những đống rơm, nhà thờ không phải vì nó, mà vì cảm thức của ông với nhãn quan tinh tường và khả năng phân tích màu sắc ở từng thời điểm, thời tiết khác nhau. Trong hội họa Monet, ánh sáng và màu sắc là hai thành tố chính hiện lên trên mặt tranh. Ông vẽ mặt trời mọc trên mặt biển với cả những lớp sương mù chưa kịp tan trong không khí lạnh ẩm. Những hoa súng đang nở từ từ, những nóc nhà thờ hiện dần trong thời tiết, từ u ám sương mù đến nắng chiều. Và tôi sẽ quan tâm đến những bức vẽ về đống rơm của ông, những đống rơm với những hình thể không mấy gợi cảm hứng cho hội họa, nhưng Monet thì quan tâm đến màu sắc phát ra trong nó nhờ sự chuyển hóa của ánh sáng.

Nếu soi xét quá kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật, hay một ý tưởng sáng tạo theo kiểu ý nghĩa nào đó thì có vẻ không phù hợp với tranh của Monet. Tôi cho rằng, Monet vẽ từ mấy nguyên nhân căn bản sau: thứ nhất, ông là họa sĩ có con mắt rất tinh tường, có khả năng phân tích màu sắc và ánh sáng cực kỳ tinh tế; thứ hai, lý thuyết cơ bản trong sáng tác của ông là sự tôn vinh màu sắc và ánh sáng; thứ ba, tình cảm của ông trước thiên nhiên, những cảm hứng dâng trào mỗi lần đối diện với thiên nhiên. Từ cảm hứng mạnh mẽ, Monet đã khiến hội họa thời bấy giờ trở nên sinh động. Ông cảm nhận thiên nhiên như chúng ta cảm nhận một con người, như cách ông từng nói: “…Tôi cảm thấy hôm nay trời bị ốm”.

Về phong cách sáng tác, Monet không quan tâm nhiều đến bố cục, không coi trọng đến hình, những bức tranh về đống rơm mà ông vẽ, điều đầu tiên khiến ta bị lôi cuốn không phải là màu đơn thuần, mà là những xúc cảm về màu sắc, các rung động tình cảm của Monet khiến cho ông hoàn toàn được giải thoát khỏi những toan tính. Những nhát bút tự do hòa quyện với nhau làm cho mặt tranh sáng bừng lên những hòa sắc, lớp lang màu chồng chéo, lung linh sâu lắng. Không có nhiều yếu tố như hình, bố cục, cũng không nhằm biến đổi, cách điệu hay đơn giản hình thể, rõ ràng, cảm hứng của Monet hoàn toàn từ thiên nhiên, và ông chỉ làm cho nó sáng hơn, đẹp hơn theo nghĩa của hội họa. Theo cách đó, hội họa của Monet là sự thỏa mãn giác quan người xem bằng các cung bậc màu sắc hết sức tinh tế.

(Sưu tầm)